Ngày đăng: 08:56 25/12/2014

Văn học Việt Nam trong chống Pháp và chống Mỹ

Ba mươi năm - hai cuộc chiến, không tính cuộc chiến ở hai đầu biên giới từ 1979 - 1989, đó là một thời gian dài, rất dài so với bất cứ cuộc chiến nào trên thế giới trong suốt thế kỷ XX. Và, đi cùng với cuộc chiến là sự xuất hiện một nền văn học viết về chiến tranh.
Khi đại bác gầm thì chim họa mi tắt tiếng, lô gích đó xem ra không đúng với dân tộc Việt Nam, bởi trong suốt 30 năm, bất cứ lúc nào cũng xuất hiện những tác phẩm văn học - nghệ thuật thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh). Những tác phẩm của mấy thế hệ người viết, gần như không trừ ai, đã tự nguyện xếp vào đội ngũ những người ra trận, để từ đó làm nảy nở một nền văn học viết về nhân dân chiến đấu, ngay trong khói lửa chiến tranh. Và giá trị của nền văn học đó, trước hết chính là ở sự hiện diện kịp thời này, một sự hiện diện quý giá, nếu không có nó, người viết không thể nào có được căn cứ, chất liệu cần thiết cho việc nêu và trả lời các câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc và cũng là của thời đại: Vì sao dân tộc ta phải thắng? Vì sao ta đến được với Điện Biên Phủ 1954 và Đại thắng mùa xuân 1975?

Hãy thử dừng lại để soi vào cách sống, cách làm việc của số lớn người viết, hoặc số lớn trang viết trong 30 năm đó.

Đó không phải chủ yếu là cái bàn với lọ hoa. Với những chuyến nghỉ ngơi, để tìm sự yên tĩnh trong thiên nhiên. Hoặc sự thay đổi không khí ở một vùng đất khác, trong nước hoặc nước ngoài...

Nếu cái động tác cơ bản của số đông người viết trong 30 năm đó là vừa cầm súng vừa cầm bút, thì cái hoàn cảnh cơ bản để họ hành nghề diễn ra trên đường hành quân, bên bếp lửa rừng, giữa hai loạt bom, giữa hai tầm đại bác, phút im lặng giữa hai trận đánh, và lắm lúc cả trong cái đói cồn cào ở chiến trường… Tôi muốn nói sự ra đời của số lớn tác phẩm ở tình huống đó, không ai không trải qua, trong phần lớn, hoặc toàn bộ đời viết của mình, từ Trần Đăng, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi... đến Nguyễn Thi, Giang Nam, Nguyên Ngọc, Anh Đức, Phan Tứ, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn… Rồi Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Thiều... Cố nhiên, cuộc sống, ngay cả trong chiến đấu, không phải không có những lúc tĩnh lặng, bình yên. Nhưng có phải ở tất cả người viết, chính những giây phút không bình yên của chiến tranh lại dồn chứa biết bao cảm hứng, rung động và sự thôi thúc cho ra đời những quyển, những bài, những trang thật đáng giá. Phải chăng, đó là sự bù đắp, cân bằng trở lại cho tất cả thiệt thòi và hy sinh mà những người viết văn trong chiến tranh phải chịu đựng.

Dẫu sao, không thể nói chiến tranh như là một hoàn cảnh thích hợp, càng không thể nói là thuận lợi cho người viết, khi cái sống và cái chết kề nhau. Nói như Nguyễn Sáng, hãy cứ viết với bất cứ gì có trong tay mình, chứ không thể nói chuyện để dành. “Biết sống biết chết lúc nào mà để dành”.

Công chúng trong chiến tranh cũng là điều không được phép quên. Văn học phải là vũ khí, là nguồn sức mạnh, là điểm tựa cho con người trong mọi khó khăn, gian nguy. Văn học trong 30 năm chiến tranh là văn học viết cho những người mẹ dám tiễn nốt đứa con trai cuối cùng lên đường, cho người vợ đã xa chồng trong 9 năm, lại tiếp tục một cuộc chia ly mới, không hẹn được ngày đoàn tụ. Văn học phải viết về hậu phương sao cho người ở tiền tuyến yên tâm; và viết về tiền tuyến sao cho người ở lại hậu phương luôn vững dạ. Trong hàng vạn người hy sinh, lời nhắn nhủ gửi về phía sau phải là lời của người sống, và khát khao của họ là nhằm vào một chữ đợi. Một mối liên hệ gắn nối như thế có thể “duy tâm”, nhưng rất cần thiết, chính vì có chữ đợi của hậu phương nên sẽ có người sống trở về. Tôn trọng sự thật, người viết không được tô vẽ, không được tuyên truyền một chủ nghĩa lạc quan rẻ giá, nhưng người viết nào cũng có trách nhiệm không được làm nản chí tất cả những ai đang trên đường ra trận, đang giáp mặt với kẻ thù, và cả những ai đang chờ đợi.

***

Thật rõ ràng là ở Việt Nam, trong 30 năm ấy, số phận cá nhân gắn liền với số phận dân tộc như hai mặt của một tờ giấy. Người vợ Việt Nam ở lại miền Nam, sau năm 1954, chung thủy với chồng cũng chính là chung thủy với cách mạng. Kẻ thù biết vậy nên trong những chiến dịch tố cộng khốc liệt, chúng đã dồn sức đánh vào sự chung thủy của người vợ chờ chồng. Chỉ cần chữ “ly khai”, “hạ” được một phụ nữ trong cuộc chiến này chính là đẩy lùi lòng tin, là nới lỏng sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng.

Cuộc chiến thầm lặng mà thật khốc liệt. Và chiến thắng giành được không chỉ riêng của cá nhân.

Hãy đừng nghĩ về chủ nghĩa nhân đạo một cách chung chung như nhiều nơi khác. Yêu cầu một thiếu nữ đang tuổi đôi mươi đã chờ chồng ở một cuộc chiến tranh, lại tiếp tục chờ thêm một cuộc nữa, sao được gọi là nhân đạo? Nhưng nếu không chấp nhận sự chờ đợi này thì cách mạng phải lùi bước. Chính từ nhận thức đơn giản đó mà có hình ảnh người phụ nữ trăn trở “trước tờ giấy trắng” trong thơ Giang Nam đến người phụ nữ “một mình một mâm cơm, ngồi bên nào cũng lệch” trong thơ Hữu Thỉnh.

Nhận thức ấy đã thành kinh nghiệm, thành bản năng trong mỗi người chúng ta suốt nửa thế kỷ.

Trong câu nói của Núp: “Ăn tro tranh khổ, nhưng khổ một đời mình; còn ăn muối Pháp thì còn khổ suốt hết đời con, đời cháu mình nữa”. Trong lời khẳng định: “Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì”, và trong cái quyết tâm: “Còn cái lai quần cũng đánh” của chị Út Tịch.

***

Nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng chủ nghĩa phát xít, tôi đọc được chuyện một bà mẹ Nga ở Kuban có 9 người con lần lượt hy sinh. Ngày chiến thắng về làng bà mẹ đã ngã sấp xuống vườn nhà, hai cánh tay già run rẩy vục vào nền đất ẩm và rên lên: “Sao số phận lại đầy đọa tôi đến như vậy”. Và trang bên là hình ảnh ngôi nhà cũ của bà mẹ đã được xây dựng thành bảo tàng của địa phương; trước sân nhà là ba dãy bia mộ của đủ 9 người con.

Nhà bảo tàng và bia mộ cho nhân dân. Cho thời gian.

Ở Việt Nam ta không thiếu những bà mẹ như vậy, đã hiến dâng cho Tổ quốc dăm bảy hoặc tất cả những người con - cả trai và gái, và không ít trường hợp gồm cả thế hệ thứ ba, vì cuộc chiến đấu ở ta có độ dài năm sáu lần hơn.

Có cách biết ơn của người làm bảo tàng. Lại có cách biết ơn của người làm văn, ghi vào chữ nghĩa. Bảo tàng có sức tác động mạnh, nhưng có giới hạn: mỗi người phải đến với nó. Có độ gần, dễ đến. Nhưng có độ xa, rất nhiều người không đến được. Còn văn học, bất chấp khoảng cách không gian, tự nó tìm đến với người đọc, qua cầu ngôn ngữ. Sao cho những mất mát được bù đắp và đừng có sự bạc bẽo hoặc vô ơn nào tìm được nơi ẩn nấp. Để kết thúc cho những trang tản mạn này, tôi thấy vẫn không thể nào tránh được cái ý đã quen thuộc: sự thật thì lớn lao mà trang giấy thì bé quá. Nhưng lại cũng đến lúc, mỗi người viết hôm nay, không còn đường nào khác, phải có cách sao cho trang giấy - mãi mãi chỉ nhỏ bé như vậy, nói được, ôm được, chung đúc được mọi sự thật lớn lao của cuộc đời.

Nguồn: Người Đại biểu nhân dân
Tags
Chú ý: Mọi lời bình sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng tải. Những lời bình chứa lời lẽ tục tĩu, khiếm nhã, liên quan tới vấn đề chính trị, tôn giáo sẽ tự động bị xoá bỏ.
h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai