Ngày đăng: 09:41 22/12/2014

Những trang sử chưa từng có và không bao giờ lặp lại

Tháng 12-2014, kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiều điều rất đáng nói. Riêng tôi, muốn nói đôi điều về một lĩnh vực mình từng nhiều năm quan tâm, theo dõi: Đóng góp của Quân đội vào thành tựu văn học nghệ thuật.

Ra đời đồng thời với Cách mạng, là nhân tố làm nên thắng lợi của Cách mạng, rồi tham gia kháng chiến, bảo vệ đất nước, giải phóng dân tộc, bảo vệ những thành quả và lý tưởng Cách mạng, Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thực tế đã tạo nên hình ảnh một đạo quân mới chưa từng có trong lịch sử cả ngàn năm dựng và giữ nước. Quân đội đã tạo ra hình mẫu một con người đẹp vừa lý tưởng vừa thực tế. Anh Bộ đội Cụ Hồ, với bài hát nằm lòng: Vì nhân dân quên mình,  nhân dân hy sinh.

Hiện thực đó là nguồn cảm hứng sáng tạo mới lạ, thường trực, hấp dẫn của văn học nghệ thuật 70 năm qua, đặc biệt trong 30 năm cách mạng và kháng chiến, có thể tính thêm 15 năm tiếp theo. Ngay từ bây giờ, chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn, đó là những trang sử văn học nghệ thuật hào hùng, chói sáng và đầy thi vị, mà trong lịch sử mấy ngàn năm liên tục chống ngoại xâm, cũng như trong tương lai, không bao giờ có thể gặp lại. Sau Cách mạng tháng Tám  năm 1945, đất nước vừa phải chống xâm lược, vừa hướng tới tổ chức xây dựng một trật tự xã hội mới, không còn giai cấp bóc lột, với khẩu hiệu thiết thực: Người cày có ruộng. Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Ngước nhìn lịch sử ngàn năm, qua bao nhiêu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc, cả văn thơ đầy hào khí thời Lý - Trần, liệu bao nhiêu tác phẩm có hình ảnh người lính, nhân tố quan trọng làm nên chiến thắng? Tất nhiên chúng ta không nên quên, phương thức tiếp cận lịch sử cụ thể của văn chương xưa có đặc điểm riêng.

Hành trình để có sự ra đời, hình thành và phát triển, rồi trưởng thành của dòng văn học - nghệ thuật về chiến tranh và cách mạng cho đến nay vẫn chưa có những công trình khảo sát, nghiên cứu và tổng kết một cách khoa học, công phu. Trong bài viết ngắn này, tôi chỉ muốn phác thảo lại một cách khái quát sơ lược con đường hình thành nên đội ngũ nhà văn mặc áo lính, và đóng góp của họ cho văn học nước nhà.

40 năm trước, trong bài viết, Ghi nhận sơ bộ về nhân vật chiến sĩ trong văn xuôi (1944 - 1974), tôi đã dẫn một nhận xét của nhà văn Nguyễn Công Hoan, người rất am hiểu xã hội cũ: Trước kia, thời Pháp thuộc, vai trò người lính hình như không có trong xã hội Việt Nam. Đố ai tìm thấy một bài thơ, một cuốn sách, một bức tranh, một bài hát nào lấy ông quyền khố xanh, khố đỏ làm đầu đề. Nếu như người ta có nói chuyện đến người lính thì chỉ cốt để chế nhạo hoặc oán ghét mà thôi. Vậy mà bây giờ: Dân chúng yêu người lính, dân chúng coi người lính như ruột thịt trong gia đình. Dân chúng gọi người lính là đồng chí. Người lính cũng yêu dân chúng, người lính cũng coi dân chúng như ruột thịt trong gia đình. Người lính gọi dân chúng là đồng chí. (Người lính - Tập văn cách mạng và kháng chiến -1949).Tác phẩm văn học viết về người lính đầu tiên, được chú ý là bài ký Một lần tới Thủ đô của Trần Đăng viết tháng 1-1946.

Bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều nhà văn tiền chiến đã tham gia quân đội, hoặc đi theo các đơn vị bộ đội trong các trận chiến đấu. Nhưng từ gần gũi đến hiểu biết, rồi viết cho đúng, cho hay về họ là một chặng đường dài. Với đa số nhà văn cầm bút trước cách mạng là suốt 9 năm kháng chiến. Một cây bút lão luyện trong nhiều thể loại văn xuôi là Nam Cao, trong Nhật ký ở rừng đã thốt lên: Tôi biết các anh nhiều khi phải nhịn cơm, ăn cháo. Đứng dưới mưa suốt ngày, suốt đêm mà đánh giặc. Lòng các anh cũng là lòng súng thép. Mưa có bao giờ làm ỉu xịu một tấm lòng bằng thép đã tôi già… Các anh hãy dạy tôi biết hy sinh, biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến cái tên mình, không nghĩ gì đến cả thân mình nữa. Các anh hãy rọi vào lòng tôi ánh nắng rực rỡ trong đôi mắt và cõi lòng của các anh.

Một chút tâm sự chân thành của một nhà văn xuất thân nghèo khổ đủ cho ta thấy những khó nhọc của lớp nhà văn trước cách mạng đi theo kháng chiến, và viết về những con người tham gia chiến đấu. Lòng thành không thiếu, nhưng chỉ như thế là chưa đủ để có tác phẩm hay. Một hiện thực mới lạ, những con người mới lạ, luôn là thử thách quá sức nhiều người cầm bút. Đó là lý do sự ra đời những tác phẩm ấu trĩ, giản đơn đến thô thiển, có khi của cả các nhà văn từng có những tác phẩm thành công.

Nhưng cuộc sống và chiến đấu đã có những sự vận động tự nhiên để đáp ứng yêu cầu của nó. Và thực sự là mấy mươi năm, cách mạng và kháng chiến, từ thực tiễn chiến đấu đã sản sinh ra:

1/ Một đội ngũ văn nghệ sĩ thực sự đông đảo, nhiều người tài hoa, theo đúng tinh thần: Lòng vui/ rung câu hát/ Của chúng ta làm/ Ca ngợi chúng ta ( Chính Hữu).

2/ Từng thời kỳ đều có những tác phẩm đặc sắc, ghi dấu từng chặng đường kháng chiến trên khắp đất nước: Từ núi rừng Việt Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Vùng tự do Khu IV, Bình Trị Thiên, Khu V, Khu VI, Đông và Tây Nam Bộ.

3/Không chỉ số lượng, mà nhiều tác phẩm đã có giọng điệu riêng, thể hiện được cá tính của từng tác giả.

4/ Và điều đáng nói, đáng khẳng định nhất là tác động xã hội sâu rộng của các tác phẩm văn học nghệ thuật đối với cuộc kháng chiến. Nhiều tác phẩm còn đến hôm nay như những cột mốc đánh dấu những trang lịch sử đẹp và hào hùng dân tộc đã vượt qua. Chính thành công đó đã nâng cao vai trò, vị trí của văn học nghệ thuật và văn nghệ sĩ trong xã hội. Đến lượt họ cũng được coi là chiến sĩ như những người lính cầm súng chiến đấu.

Trở lại với văn học, khảo sát từng chặng hình thành và trưởng thành của các thế hệ tác giả, chúng ta thấy có những nét riêng.

Giai đoạn 1945-1954: Sau cách mạng, ngoài một số văn nghệ sĩ từng tham gia Văn hóa Cứu quốc như Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Văn Cao, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi,… các tác giả tiền chiến đã hồ hởi đón chào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng khi thực dân Pháp trở lại, cuộc kháng chiến nổ ra, và cả trong những năm tiếp theo, đội ngũ này đã chia thành hai ngả. Nhưng ngay những người đi theo kháng chiến cũng không phải đã tiếp tục cầm bút được và có tác phẩm hay. Những Nhớ máu (Trần Mai Ninh), Đèo cảMàu tím hoa sim (Hữu Loan), rồi sau này Tây tiến (Quang Dũng ), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Nhớ (Hồng Nguyên), Chiều mưa đường số 5 (Thâm Tâm), Viếng bạn (Hoàng Lộc), Ngày vềĐồng chí (Chính Hữu)...trong thơ; Những Voi đi (Siêu Hải),Thư nhà (Hồ Phương) đến Xung kích (Nguyễn Đình Thi) …là thuộc về một lớp bộ đội có học thức và trực tiếp làm người lính. Mặc dầu vậy, về số lượng cũng như chất lượng, đội ngũ và tác phẩm mười năm đầu này còn rất khiêm tốn. Một số bài thơ, truyện ngắn thực sự quý báu, tạo được dấu ấn, và đường nét văn chương một thuở hồn nhiên, trong trẻo, đầy khí phách.

Giai đoạn 1955 -1965: Sau hiệp định Genever, đất nước tạm thời bị chia làm hai miền. Có một đợt di dân vĩ đại: Hàng vạn cán bộ, bộ đội, và dân thường từ phía nam Vĩ tuyến 17, theo nhiều con đường tập kết ra miền Bắc. Và ngược lại, có dòng chảy hàng triệu người miền Bắc di cư vào Nam. Cuộc chia cắt quy ước 2 năm, trong thực tế đã kéo dài 20 năm, với bao nhiêu xương máu, của cải hy sinh mới có ngày thống nhất đất nước.Nhưng nhờ đó, miền Bắc đã có 10 năm xây dựng trong hòa bình.

Về văn học nghệ thuât, đây chính là thời kỳ văn học nghệ thuật mới được định hình, tập họp, tổ chức, đào tạo, và có nhiều tác phẩm thành công, xuất hiện nhiều tác giả mới đầy hứa hẹn. Trước hết, đây là thời kỳ hồi sinh của nhiều tác giả tiền chiến. Sau nhiều năm im lặng hoặc có viết cũng không gây được tiếng vang, những tên tuổi Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng,Nguyễn Tuân,Tô Hoài,…trong văn, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Hoàng Cầm, Thanh Tịnh, Tế Hanh ,… trong thơ trở lại văn đàn như một đội ngũ chủ lực, với nhiều tác phẩm về cuộc kháng chiến chín năm, về nỗi đau chia cắt và niềm hy vọng về một cuộc sống mới đang bắt đầu. Điều đặc biệt là ngay từ trong kháng chiến, một lớp cán bộ chiến sĩ từ các đơn vị chiến đấu, từ chính sự từng trải của mình, đã tìm tới văn chương như là nơi ký thác những cảm nhận mới mẻ. Họ đã được các nhà văn lớp trước chú ý nâng đỡ, dìu dắt, khuyến khích để đến với văn chương. Và hòa bình đã đem lại cho họ một cơ hội mới để học tập, sáng tác. Sau này nhà thơ Vũ Cao, tác giả Núi Đôi, nhiều năm là Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, người có can dự vào việc lập danh sách các cán bộ chiến sĩ có năng khiếu văn thơ, nhạc họa được triệu tập về phòng Văn nghệ thuộc Tổng cục Chính trị, có nhớ lại: Cùng một lúc, hàng trăm anh lính trẻ thuộc nhiều đơn vị, nhiều chiến trường được triệu tập về một chỗ. Công tác tổ chức không theo kịp, định hướng cũng chưa thật rõ ràng, mà toàn là những ông tướng nghệ sĩ có máu tự do, đầy ảo tưởng về mình, nên cũng phát sinh nhiều chuyện không lường hết từ trước. Về văn hoc, phải đến đầu năm 1957, tờ Tạp chí Văn nghệ Quân đội kế tục Tập san Sinh hoạt Văn nghệ lưu hành nội bộ quân đội mới ra công khai. Từ đây, tờ tạp chí hàng tháng vừa là nơi tập hợp người viết, công bố tác phẩm mới. Ngoài đội ngũ biên tập, họ còn được thay nhau đi sáng tác, hay thuộc Tổ sáng tác để tạo điều kiện từng người có thời gian học tập văn hóa và nghiệp vụ, đi thực tế ở các địa phương, các đơn vị và viết tác phẩm. Nhờ thế mà Văn nghệ Quân đội có những tên tuổi mới dần trở nên quen thuộc và được bạn đọc đón nhận: Hồ Phương, Chính Hữu, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Thanh Tịnh, Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tấn, Phùng Quán, rồi Xuân Sách, Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu, Lê Khâm, Văn Linh, Nguyễn Trọng Oánh, Hải Hồ, Mai Ngữ…Tác phẩm của họ làm nên một thời kỳ văn học sôi động, lấy khí thế xây dựng miền Bắc át đi nổi đau chia cắt và những tin không lành về người thân ở miền Nam bị đàn áp, truy lùng, sát hại. Xây dựng miền Bắc làm hậu thuẫn vững chắc để giải phóng miền Nam, là một nguồn cảm hứng lớn cho các sáng tác thời kỳ này: Cỏ non của Hồ Phương, Trăng sáng và Đôi bạn của Nguyễn Ngọc Tấn, Rẻo cao của Nguyên Ngọc. Mùa lạc, Người trở về…của Nguyễn Khải…

Nhắc đến văn học cách mạng và kháng chiến thời kỳ này không thể quên một số lượng lớn các hồi ký cách mạng và một cuộc vận động sáng tác có quy mô lớn và có nhiều tác phẩm thành công: Những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội. Bắt đầu từ những bài viết ngắn như thế, một số đã trở thành nhà văn có tên tuổi. Đầu những năm 1960 đã có những người viết tham gia vào đạo quân đầu tiên trở lại miền Nam tham gia chiến đấu: Thu Bồn, Thanh Giang, Liên Nam, Võ Trần Nhã đã về Nam từ 1960. 1962 là Nguyên Ngọc có bút danh Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Ngọc Tấn lấy tên con trai là Nguyễn Thi, Lê Khâm - Phan Tứ, Bùi Minh Quốc -  Dương Hương Ly, Nguyễn Chí Trung. Rồi các năm tiếp theo là Nguyễn Quang Sáng, Bùi Đức Ái - Anh Đức, Phạm Ngọc Cảnh - Vũ Ngàn Chi, Nguyễn Trọng Oánh - Nguyễn Thành Vân, Trúc Hà – Nam Hà, Lê Văn Thảo, Triệu Bôn, Dương Thị Xuân Quý…Những năm tháng chia cắt đau thương, không thể nào quên cả Miền Bắc đã đón nhận với biêt bao yêu thương, hy vọng những tác phẩm nhỏ từ miền Nam gửi ra: Mấy bài thơ: Mồ anh hoa nở, của Thanh Hải, Quê hương của Giang Nam và đặc biệt là Bài ca chim Chơrao của Thu Bồn,Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân… Không phải dễ dàng để mấy vị lãnh đạo hàng đầu của Quảng Nam –Đà Nẳng nhiều lần khẳng định, nhiều bài thơ của Thu Bồn có sức mạnh như một binh đoàn.  Hầu hết các  nhà văn ở Văn nghệ Quân đội đi tham gia các chiến dịch, các vùng tuyến lửa, chiến dịch Quảng Trị 1972, hay đi B ngắn. Nguyễn Khải ra đảo Cồn Cỏ và tuyến lửa Vĩnh Linh để có Họ sống và chiến đấuRa đảo, Đường trong mây, Chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu cóDấu chân người lính, Xuân Thiều - Nguyễn Thiều Nam, Hồ Phương - Hồ Huế, Hữu Mai - Trần Mai Nam, Xuân Sách -Lê Hoài Đăng, Ngô Văn Phú - Ngô Bằng Vũ,… ký tên dưới nhiều tập ký về chiến trận. Mùa Xuân 1975, hầu như toàn bộ các nhà văn ở VNQĐ đều được cử đi theo các Quân, Sư Đoàn để sau đó tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày đầu giải phóng, họ đều có mặt ở Sài Gòn. Và ngay đó, hàng loạt ký sự chiến đấu đã được hoàn thành.

Giai đoạn 1965 -1975: Đây là thời kỳ có sự đồng sáng tạo của ít ra bốn thế hệ cầm bút:

1/ Lớp nhà văn nhà thơ tiền chiến vẫn đang hồi sung sức với nhiều tác phẩm gây được chú ý. 

2/ Lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, được chuẩn bị về nghề nghiệp để khi chiến tranh lan ra cả nước là kịp có mặt ở nhiều mặt trận, và có tác phẩm. Gương mặt nhiều nhà văn được hiện rõ với những tác phẩm kịp thời mà không sơ lược. Một số tên tuổi vừa được nhắc ở phần trên.

3/ Xuất hiện nhiều tác giả mới, trẻ trung, và ngay từ đầu đã được chú ý vì có giọng điệu riêng. Nếu thế hệ trước, để được coi là nhà văn, cần cả một quá trình luyện bút, thì hình như vào thời kỳ chống Mỹ, có kha khá những người viết trẻ ngay từ lần xuất hiện những tác phẩm đầu đã được coi như một tác giả nghiêm chỉnh và không nghi ngờ gì, khi họ đương nhiên được coi là nhà văn, nhà thơ. Mà con số này là hàng trăm. Chỉ cần nhắc lại vài cái tên: Lê Anh Xuân -Ca Lê Hiến, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Mỹ, Ngô Văn Phú, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng,Anh Ngọc, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo…trong thơ; Đỗ Chu, Lê Lựu, Triệu Bôn, Tô Hoàng, Tô Đức Chiêu, Cao Tiến Lê, Nguyễn Thị Như Trang, Lê Minh Khuê, Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm  Phong, Thao Trường, Dương Duy Ngữ, Duy Khán,…trong văn và hình dung lại những tác phẩm của họ để thấy bức tranh đất nước thời chiến trận.

4/Và đáng chú ý là một lớp những người lính ở các đơn vị chiến đấu, trong và ngay sau chiến tranh đã được tổ chức tạo điều kiện về các trại sáng tác, các khóa học viết văn chính quy. Sáng tác của họ chủ yếu trong hòa bình nhưng bóng dáng chiến trận trùm lên gần như toàn bộ tác phẩm của họ, Người ta nói không ai đào tạo được nhà văn. Nhưng với những người đã có chút năng khiếu văn chương thì việc có thời gian và điều kiện để nâng cao kiến thức, mở rộng tầm nhìn, học thêm kinh nghiệm thao tác nghề nghiệp của các tác giả xưa nay quả đã giúp nhiều người tìm được lối đi riêng để tự khai tác và thể hiện vốn liếng cuộc sống mà mỗi người từng trải nghiệm. Có thể kể ra ở đây tên các nhà văn từng học các khóa đầu tiên sau chiến tranh ở Trường viết văn mang tên Nguyễn Du: Hữu Thỉnh, Bảo Ninh, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Thái Bá Lợi, Khuất Quang Thụy, Phùng Khắc Bắc, Nguyễn Bảo, Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Nguyễn Hoa, Phạm Hoa, Đình Kính, Dạ Ngân…và mấy chục nhà văn mặc áo lính khác. Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa đến tuổi cũng nhập ngũ và có nhiều năm ở bộ đội Hải quân, làm lính ở các đảo chìm, đảo nổi ở Vịnh Bắc Bộ.

Sau 1975 vẫn còn hai cuộc chiến tranh lớn, chống giặc bành trướng ở Biên giới phía Bắc và quân Khmer đỏ ở biên giới Tây Nam, rồi sang giải phóng giúp bạn thoát khỏi chế độ diệt chủng tàn bạo của bọn Pôn pốt-Iêng xa ry. Và một lần nữa, các thế hệ nhà văn quân đội lại có mặt bên những người lính, lại có những tác phẩm nóng hổi sự sống viết về tâm tình người lính trong hình thế chiến đấu mới lạ, nhưng không thể lẩn tránh.

Trong những dịp nói về con đường vào văn học của mình, hầu hết lớp nhà văn trưởng thành trong mấy cuộc kháng chiến đều ghi nhớ công lao giúp đỡ và thái độ ân cần khuyến khích, chỉ bảo của các nhà văn lớp trước, không chỉ trong các lớp học, mà cả trong cuộc sống thường ngày. Nhà văn Nguyễn Khải hay nhắc đến con đường từ một anh lính ngờ nghệch, nhiều mặc cảm đến thành một trong những nhà văn nói và viết sắc sảo, đáo để hàng đầu trong văn đàn đương đại, có công các người thầy Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Kim Lân, Nguyễn Xuân Sanh, và đặc biệt là sư phụ Nguyễn Tuân. Mà không chỉ một mình anh được nhận sự chỉ dạy chu đáo và vô tư đó. 

 Một nét đặc biệt là những năm đất nước bị chia cắt, đến từng gia đình cũng bị chia cắt, rồi một gia đình mà bị buộc đứng về hai chiến tuyến đối địch, đã tạo ra nhiều trạng thái tâm thế khác lạ. Dẫu có kẻ thù xâm lược từ bên ngoài, nhưng cảnh nồi da xáo thịt vẫn diễn ra hàng ngày. Hoàn cảnh đó đã tạo ra một nền văn học giàu tính lý tưởng, giàu tình cảm nhân hậu, nhưng cũng đẫm nước mắt và máu, kể cả xương máu của chính các nhà văn. Hàng chục nhà văn là Liệt sĩ. Ba nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi, Ca Lê Hiến - Lê Anh Xuân, Trần Tiến - Chu Cẩm Phong  được tuyên dương là Anh hùng Quân đội. Bởi ngoài tác phẩm, các anh đã chiến đấu và hy sinh như một người lính dũng cảm. Họ đã trở thành những nhà văn như Nam Cao từng ao ước:…Biết hy sinh,biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến cái tên mình, không nghĩ gì đến cả thân mình nữa.

Ngày hôm nay nhìn lại gia tài văn học những năm cách mạng và kháng chiến, về đề tài chiến tranh và quân đội, chúng ta có thể khẳng định đó là những giá trị đặc biệt quý báu. Một thành tựu về lực lượng, về tác phẩm, về tác động xã hội của từng tác phẩm, như thế là chưa từng có trong lịch sử văn học nước nhà. Và tôi tin trong tương lai cũng sẽ khó lặp lại. Bởi hình thái xã hội đã khác, hình thái chiến tranh hiện đại cũng đã khác. Vũ khí hiện đại có sức hủy diệt lớn, không có nhiều chỗ cho hoạt động cá nhân của từng người lính. Địa hình một đất nước công nghiệp hóa cũng không còn thích hợp cho hình thức chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân nữa. Văn học nghệ thuật sẽ tiếp tục phát huy sức cổ vũ lòng yêu nước, khi nguy cơ xâm phạm biên giới, hải đảo vẫn xảy ra thường trực. Nghĩ như thế, để những người có trách nhiệm hiện nay kịp thời có những chiến lược bảo tồn  và phát huy giá trị tinh thần, tư tưởng của những tác phẩm tốt đã ra đời trong những năm chiến tranh và cách mạng. Tiền bạc không thể là thước đo các giá trị tinh thần. Nhưng trong nền kinh tế thị trường, dẫu có đuôi định hướng XHCN,và cũng vì có sự định hướng này mà nên một lần nói cho sòng phẳng, đó là thái độ và chính sách của Nhà nước  đối với các tác phẩm VHNT ra đời trong chiến tranh và cách mạng mà hôm nay còn sử dụng rộng rãi: Tái bản, đưa vào sách giáo khoa, vào các bộ tuyển tập. Nhưng nhuận bút vẫn là tư duy bao cấp. Sách giáo khoa nhiều năm không trả nhuận bút, dù in với số lượng lớn. Đài phát thanh sử dụng như của chùa. Sách tài trợ, theo đặt hàng, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Nhà nước, nhuận bút còn thê thảm hơn. Toàn tập Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi gồm 4 tập, gần 2.000 trang, bao gồm gần toàn bộ sáng tác của nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, được tuyên dương Anh hùng thời chống Mỹ được trả nhuận bút 15 triệu, sau khi trừ thuế, gia đình chỉ nhận được 13,5tr.( Liệt sĩ rồi vẫn phải đóng thuế?)  Sẽ không có gì đáng nói, nếu nhìn ra những đồng tiền ngàn tỉ đang chi hào phóng cho các đại hội thể thao, hàng chục tỉ cho một lần chuyển nhượng cầu thủ, hàng trăm triệu cho một lần xuất hiện của các ca sĩ…. Cùng trong giới văn hóa, mà như một bên sống theo tiêu chuẩn trong thời tiền sử, một bên sống trong cơ chế thị trường. Một đội bóng trung bình hàng tỉnh với nhiều nhất dăm chục người, không thể tồn tại nếu có không dưới 50 tỉ. Mấy Hội sáng tạo văn học nghệ thuật cấp quốc gia với hàng ngàn Hội viên có lẻ chỉ mơ có 1/10 số tiến đó để đầu tư cho sáng tạo. Nói đến tiền bạc chi li, có vẻ bần hàn. Nhưng cái thuở lãng mạn và hy sinh vô điều kiện đã qua rồi. Chúng ta đang đi tìm những nguyên nhân của sự xuống cấp về đạo đức trong xã hội, nhưng đã mấy ai thấy và công nhận, nó có một nguyên nhân cơ bản ở ngay trong các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước: Công nhận và tạo cơ hội cho sự bất công, khuyến khích và mở đường cho chủ nghĩa cơ hội, tham nhũng, càng phát triển càng xa dần các tiêu chí mà buổi đầu Cách mạng hứa hẹn. Đang có một hiện thực khác xa mô hình lý tưởng, mà về lý thuyết nước ta vẫn tuyên bố theo đuổi. Lợi ích kinh tế đang đẩy những giá trị tinh thần quý báu mà dân tộc gìn giữ và nhờ đó giữ được Độc lập trước nhiều cuộc xâm lăng, vào tình thế tự tan rã, hoặc không thể duy trì và tiếp tục.

Cách thiết thực nhất để nuôi dưỡng và phát huy giá trị quý báu của VHNT những năm chiến tranh và Cách mạng để trong các trận đụng độ khó tránh mãi trong tương lai, các tác phẩm đó còn sống mãi, còn tiếp tục truyền lan tình yêu Tổ Quốc, ý thức phụng sự nhân dân, gìn giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc ngàn đời, thì ngay từ bây giờ, nhân dịp kỷ niệm này nên có ngay nhưng chiến lược, sách lược thiết thực và cụ thể hơn nữa, cập nhật hơn nữa, để tưởng thưởng xứng đáng công lao của những người lính chiến đấu,rất nhiều người đã hy sinh, trong đó có các Văn nghệ sĩ.

Tác giả: Ngô Thảo
Nguồn: Hội Nhà văn Việt Nam - http://vanvn.net/

Tags
Chú ý: Mọi lời bình sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng tải. Những lời bình chứa lời lẽ tục tĩu, khiếm nhã, liên quan tới vấn đề chính trị, tôn giáo sẽ tự động bị xoá bỏ.
h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai