Ngày đăng: 09:09 22/09/2017

Nhân 85 năm phong trào Thơ mới (1932-2017): Thơ mới những chuyện chưa bao giờ cũ

Trong lời “Nhỏ to...” cuối sách Thi nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh - Hoài Chân viết: “Tôi đã đọc một vạn bài thơ và trong số ấy có non một vạn bài dở. Nếu làm xong quyển sách này, mà không chê chán vì thơ, ấy là điều tôi rất mong mỏi…”.

Phải ghi nhận một thực tế khách quan là thành công của Thi nhân Việt Nam kết tinh phong trào Thơ mới chính là đã tựa trên nền tảng một đời sống học thuật thực sự cởi mở, dân chủ - tất nhiên là trên lĩnh vực thơ ca. Ở đây quả đã diễn ra không khí “trăm nhà đua tiếng” với sự nhập cuộc bình đẳng của tất cả các phái mới - cũ, Tây - Đông, hiện đại - truyền thống, trong Nam - ngoài Bắc, giới sáng tác - phê bình... mà trọng tài ghi nhận cuối cùng chính là sự thắng thế tuyệt đối của trào lưu Thơ mới.

Đương nhiên công việc đánh giá toàn cảnh bức tranh lịch sử phong trào Thơ mới đòi hỏi phải tìm trở lại những tài liệu nguyên gốc, những tiếng nói ban sơ, chân thực, trực cảm, trực giác, trực diện, thực lòng, chịu trách nhiệm với chính mình, trong đúng không khí, môi trường, cảnh quan, sinh quyển và thực sự là tiếng nói của NGƯỜI TRONG CUỘC, “thời Thơ mới bàn về Thơ mới”; bao gồm tất cả những ý kiến đề xuất, tựa, bạt; những cuộc luận chiến, đấu tranh nảy lửa giữa nhiều người và nhiều phái về quan niệm Thơ mới - cũ; những bài đọc sách, điểm sách, đăng đàn diễn thuyết, luận bình các tập thơ; những bước tổng kết qua từng năm, từng chặng đường và cả chuyên khảo về từng tác giả, vùng miền, trào lưu; những nhận định về mối quan hệ thi ca Đông - Tây, truyền thống - hiện đại; những lý giải các hình thức tiếp nhận, các sắc thái nội dung và hình thức thể loại hay khảo sát chuyên sâu một số đặc điểm giọng điệu nghệ thuật Thơ mới đương thời.

Ngay sau khi ra đời, rất nhiều tác phẩm của Đông Hồ, Nam Trân, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, Huy Thông, Nguyễn Bính, Huy Cận, Chế Lan Viên và những Quách Tấn, Nguyễn Lan Sơn, Nguyễn Vỹ, Bàng Bá Lân (B. Blan), Nguyễn Nhược Pháp, Hoàng Diệp, Đức Văn, Nhuệ Thủy, Thao Thao, Xuân Thiện, Tchya,… đã chịu nhiều thử thách của dư luận, đặc biệt là tiếng nói phản biện của các cây bút trong nhóm Tự lực văn đoàn với nhiều bút danh khác nhau (Lê Ta - Thế Lữ, Tứ Ly – Hoàng Đạo, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Tú Mỡ, Việt Sinh, Tường Bách, Nhị Linh…).

Đơn cử trường hợp Xuân Diệu. Ngay từ khi mới nhận được những bài thơ lẻ của Xuân Diệu, chủ tướng thi đàn Thế Lữ cảm nhận: “Ở tình cảnh nào, Xuân Diệu cũng có lời mềm mại, hoặc sán lạn, đê mê, hoặc lả lơi sung sướng, hoặc buồn bã tha thiết như tiếng thở than tận cõi sâu kín của tâm hồn… Sự cảm động dồi dào và quí báu của ông còn cho ta thấy nhiều hứng vị của cái chân tài đặc biệt ấy. Tôi mong rằng sẽ được dịp nói đến thơ của Xuân Diệu nhiều hơn để lại được ca tụng nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng” (Một nhà thi sĩ mới - Xuân Diệu. Ngày nay, số 46, Xuân 1937). Chỉ qua giữa năm sau, Thế Lữ đã có dịp viết lời tựa cho tập Thơ thơ của Xuân Diệu và cho in báo ngay trước khi tập thơ ra đời: “Xuân Diệu tha thiết sống nên tha thiết tìm, và nhất là tìm mình. Ông dò xét cái “thế giới bên trong”, lượm lặt từng sợi tơ mềm yếu, từng mảnh nhớ thương, từng chút vụn sầu tủi” (Tựa “Thơ thơ” của Xuân Diệu. Ngày nay, số 119, ra ngày 17-7-1938)…

Từ phương Nam, Đông Chi biện giải: «Bác hết những ý tưởng nông nổi, những quan niệm hẹp hòi, tôi nói Xuân Diệu, một nhà thi sĩ, một thiên tài tương lai đương mở một con đường mới cho các thi gia sau này» (Thơ của Xuân Diệu. Mai, Sài Gòn, số 79, ra ngày 31-3-1939). Đến Xuân Tâm nhiệt thành khẳng định: "Và quyển Thơ thơ tác phẩm hoàn toàn như tác giả của nó là một quyển sách để đầu giường (livre de chevet) mà chẳng bao lâu sẽ trở nên một người bạn thân ái của chúng ta” (Xem “Thơ thơ” của Xuân Diệu với một tâm hồn rất bạn. Tràng An, Huế, số 405, ra ngày 21-5-1939). Hoài Thanh xác định: “Ảnh hưởng Pháp trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm”, “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới” (Thi nhân Việt Nam, 1942); Diệu Anh (Đinh Gia Trinh) nhấn mạnh: “Xuân Diệu mang vào thơ ta cái ham sống mãnh liệt, cái bồng bột, cái sôi nổi của Tây phương và chút triết lý khoái lạc (épicurisme) nữa” (Nói chuyện thơ nhân quyển Thi nhân Việt Nam, 1932-1941. Thanh nghị, số 19, ra ngày 16-8-1942)…

Thế nhưng cũng có nhiều ý kiến góp ý, trao đổi, thậm chí phê bình, phê phán Xuân Diệu và Thơ thơ. Lưu Trọng Lư trong bài Đọc “Thơ thơ” của Xuân Diệu (Thư cho em gái) xác quyết: “Cái bệnh nặng nhất của thơ Xuân Diệu ấy là sự “nôm na” (prosaisme) và điều lầm to nhất của người ấy là đã làm cái tiếng của “thần minh” thành cái tiếng của kẻ tục phàm” (Tao đàn, số 1, ra ngày 1-3-1939). Nhà phê bình nổi tiếng Lê Tràng Kiều bày tỏ: “Nhan nhản ở trong cuốn thơ Xuân Diệu, ta thấy những câu trúc trắc, khấp khểnh, đọc lên thật là mệt nhọc… Lại thêm thơ Xuân Diệu chuộng “Ý” hơn “TỨ”, chuộng tư tưởng hơn tình cảm, hơn hình ảnh” (Tiểu thuyết thứ Năm, số 20, ra ngày 16-3-1939)… Trần Thanh Mại cân phân hai chiều khen chê: “Điều đáng trách ở Xuân Diệu là tính bất thuần nhất của ông. Trong quyển Thơ thơ có chỗ có những câu thật tài tình, thật điêu luyện, nâng cao vì một âm điệu chắc chắn hồn nhiên, nhưng lại có chỗ ở đó người ta thấy rõ ràng sự cẩu thả của tác giả, sự vội vàng và sự dễ dãi” (Đời văn, Tập II, H., 1939). Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan tổng kết: “Xuân Diệu là người đã đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất. Hồi xưa, người ta chỉ tìm trong thơ ông rặt những cái dở, không kể đến cái hay, nên mới chỉ có rặt những lời chỉ trích” (Nhà văn hiện đại, Quyển ba. Nxb Tân dân, H., 1943), v.v…

Nhìn chung, đó là những ý kiến trao đổi, luận bàn sôi nổi, thậm chí có gay gắt, quyết liệt nhưng là của người trong cuộc, người trong giới văn chương, để rồi tự dư luận, thời gian và thực tiễn sáng tác sẽ phán xét và có câu trả lời cuối cùng. Thế mới biết ngay từ buổi đầu Thơ mới cũng có sự phân hóa, đan xen hay - dở, cao - thấp, tốt - xấu, khen - chê chứ không hề mát mái xuôi chèo. Tinh thần dân chủ và khả năng cập nhật thông tin, tiếp nhận đồng đại các sự kiện, hiện tượng văn học cả ở trong nước và thế giới (chủ yếu từ Pháp) là những đặc điểm nổi bật gắn với hoạt động phê bình Thơ mới và văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ nói chung.

Dẫn dụ lại vài tư liệu trên đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng câu chuyện phong trào Thơ mới vẫn còn ẩn chứa biết bao sự kiện, bao nhiêu khía cạnh, bao nhiêu mảng màu và chi tiết thú vị. Trong bước đi ban đầu, công trình sưu tập, khảo luận, luận bình, giới thiệu Thơ mới những chuyện chưa bao giờ cũ (Người đương thời Thơ mới bàn về tác gia Thơ mới) tập trung ở 12 tác giả tiêu biểu đã xuất hiện và làm nên hồn cốt phong trào Thơ mới: Đông Hồ, Nam Trân, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, Huy Thông, Nguyễn Bính, Huy Cận, Chế Lan Viên. Cần chú ý thêm, trong số 12 thi nhân tiêu biểu đã nêu, năm vừa qua có bốn tác giả Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, Huy Thông vừa tròn 100 tuổi (1916-2016)… Chắc chắn kinh nghiệm hoạt động phê bình Thơ mới của người đương thời phong trào Thơ mới còn có ích cho đời sống phê bình thơ ca và văn học hôm nay…

(Theo sách Thơ mới những chuyện chưa bao giờ cũ –

Người đương thời thơ mới bàn về tác gia thơ mới.

NXB Văn học, H., 2017, 592 trang)

 Nguyễn Hữu Sơn

Tags
Chú ý: Mọi lời bình sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng tải. Những lời bình chứa lời lẽ tục tĩu, khiếm nhã, liên quan tới vấn đề chính trị, tôn giáo sẽ tự động bị xoá bỏ.
h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai